NT Foundation - ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
 
 
Lượt truy cập: 4014797
 
 
ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Chăm sóc con trẻ phải dựa trên những tri thức khoa học
 

Hiện nay, sự phát triển kinh tế thị trường cùng với xu hướng toàn cầu hoá đã "buộc" các bậc cha mẹ "phải làm việc quên mình"  và dường như "quên luôn cả những đặc điểm tâm sinh lý của con em mình". Đặc biệt khi trẻ bắt đầu vào lớp 1, trước mắt trẻ là một môi trường hoàn toàn mới. Vì thế mà không ít trường hợp các gia đình hiện nay lâm vào cảnh "tiến thoái lưỡng nam" vì con cái. Dưới đây là những đặc điểm tâm sinh lý cơ bản nhất của học sinh tiểu học và những điều cần lưu ý đối với các bậc cha mẹ và thầy cô giáo.

 

1. Đặc điểm về mặt cơ thể

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì thế mà trong các hoạt  động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn.

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ.

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,...Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg. Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ). Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.

2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học

- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động.

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,...Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,...

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...

2.2 Những thay đổi kèm theo

- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,...các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt.

- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.

Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập.

3. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)

3.1 Nhận thức cảm tính

3.1.1 Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
3.1.2 Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...)

Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

3.2 Nhận thức lý tính

3.2.1 Tư duy

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.

Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học.

3.2.2 Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi.

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.

3.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,...Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.

3.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ.

3.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em...

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

3.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền,...) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,...Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

4. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư...

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều.

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,...khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ.

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,...

5. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn...Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được "chụp mũ" nhân cách của trẻ, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy.

Văn Tường (Trung tâm N-T)

 
E-mail  Gửi email cho bạn bè
In trang này In trang này
  Lên đầu trang
Các bài khác...
  • 10 ĐIỀU NÊN NÓI VỚI CON
  • Bố mẹ hay bạn
  • Bảo đảm và tạo cảm giác an toàn cho trẻ
  • Thái độ đứng trước con em
  • Cần có chiến lược phòng ngừa rối nhiễu tâm lý trẻ em
  • Xem con như là một chủ thể
  • "Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau tâm trí"
  • Xem con như là thượng khách
  • Trẻ em hư
  • Trẻ em ngày nay
  • Tính
  • Cảm thông và chia sẻ với tuổi mới lớn
  • Giải mặc cảm tội lỗi cho trẻ - một hướng phòng ngừa tự sát
  • Năm thông điệp gửi người cha trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
  • Làm thế nào để giúp con có được hình ảnh đẹp về người cha?
  • Chăm - Chữa - Dạy tại phòng khám Tâm lý - Y học - Giáo dục trong một bệnh viện đa năng
  • Trầm cảm tuổi học đường
  • Sẻ chia với trẻ tự kỷ
  • Trẻ có những dấu hiệu: Chậm nói, ngơ ngác... Đừng vội cho là trẻ tự kỷ
  • Môi trường xã hội và tâm lý xã hội ở thành thị
  • Rối nhiễu tâm lý sau hai năm vắng mẹ
  • Tương tác giữa bố mẹ và trẻ tuổi bế bồng
  • Hội chứng tự tỏa qua 10 câu hỏi
  • Chữa máy - chữa người
  • Nỗi khổ của con em
  • Nâng cao ý thức và hiểu biết về tâm lý trẻ cho giáo viên
  • Chăm dạy những trẻ em không may
  • Chứng trầm cảm ở thiếu niên: Khi con bạn quá vui, cũng nên để ý
  • Đau mà không tìm thấy bệnh
  • Tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam
  • 9 cách giúp bé hay nói
  • Tư duy sáng tạo
  • Vì sao nên cho con bú sữa mẹ ngay sau sinh?
  • Thiên đường của sáng tạo
  • Thái độ của bạn với cách sống tuổi teen?
  • 6 cách bắt đầu ngày làm việc mới
  • Nắm tay yêu thương
  • 13 điều nên giúp trẻ trong giao tiếp
  • Chồng lười chăm con
  • Sinh viên với kỹ năng mềm
  • Con vẹt dạy trẻ con tập nói
  • Vẹt dạy người tập nói
  • Người già trầm cảm
  • Dấu hiệu của trẻ bị dị ứng thức ăn
  • Giúp trẻ tránh say tàu xe
  • Trầm cảm ở bà bầu
  • Những cách trừng phạt trẻ sai lầm
  • Một số yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con
  • Những đứa trẻ có khả năng đặc biệt
  • Gần ba tuổi biết giải toán
  • Cảm xúc liên quan đến thành đạt
  • Rối loạn chuyển hóa
  • 10 điều cần tránh trong giáo dục khi trẻ mắc lỗi
  • Cách thông minh để trò chuyện với con
  • Dạy bé ứng xử tốt qua trò chơi
  • Luyện tập trí nhớ
  • Muốn con thông minh, hãy cho chúng chơi cờ vua
  • Con nào mẹ cũng yêu
  • Lo âu làm tăng bệnh lý nội khoa
  • Phát hiện gen gây u não ở trẻ em
  • TRẺ THÔMG MINH NHƯNG VẪN HỌC KÉM
  • Nhóc và em bé
  • Vai trò của cha mẹ trong việc phát triển nhận thức của con cái lứa tuổi học sinh tiểu học
  • Kích thích 5 giác quan cho thai nhi
  • Luyện trí nhớ siêu tốc bằng... thần dược!
  • Những bài thuốc chữa lãnh cảm
  • Bài thuốc cho phụ nữ sau sinh
  • CÁCH CHĂM CON CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ HIỆN ĐẠI
  • Các chứng rối loạn tình dục ở nam giới
  • Nên tế nhị khi con vào tuổi yêu
  • Trẻ trầm cảm dễ dính vào sex
  • Diễn biến tâm lý, tình cảm vị thành niên
  • CHỨNG ÁM ẢNH...SỢ
  • Thế nào là Trẻ có nhu cầu đặc biệt
  • Thiếu ngủ - Nguyên nhân gây tiểu đường
  • Thiếu ngủ - Trẻ dễ bị chấn thương
  • Mộng du - căn bệnh kỳ lạ nhất
  • Kích thích 5 giác quan cho thai nhi - Kỳ 2: Từ tuần lễ phát triển thứ 22
  • Khi nào nên lo lắng về việc trẻ chậm nói
  • Dạy trẻ tính lạc quan ngay từ nhỏ
  • Trẻ nhỏ cư xử kém hơn nếu được ông bà chăm sóc
  • 12 trò chơi rèn kỹ năng cho bé dưới 1 tuổi
  • Giúp bố 'kết thân' với baby mới sinh
  • Trẻ bị ẩn tinh hoàn nên được mổ sớm
  • Tập cho bé thói quen đi ngủ đúng giờ
  • Làm gì khi con tè dầm?
  • Trẻ béo phì tăng nguy cơ đau đầu
  • Lưu ý khi tắm, cắt móng cho bé sơ sinh
  • Trẻ sơ sinh nằm phòng máy lạnh được không ?
  • Giảm stress bằng chế độ dinh dưỡng
  • Mạnh hơn cả lời nói
  • Giá trị nội tại
  • Kích thích 5 giác quan cho thai nhi
  • Tăng cường tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng ở phụ nữ có thai
  • Trẻ nhỏ có biết đùa không?
  • Tư thế ngủ của thai phụ
  • 6 tuần đầu làm cha
  • Rối bời khi teen “yêu” bạn cùng giới
  • Trẻ bị rối loạn cảm xúc: Hậu quả khôn lường!
  • 10 cách nói yêu con
  • Để yêu nhau hơn khi có bé
  • Thế nào gọi là “chất xám”
  • Đo nhu cầu thành đạt bằng phương pháp TAT
  • Được nuông chiều quá trẻ sẽ thiếu kiềm chế
  • Cách đơn giản giúp trẻ hết nhút nhát
  • Trẻ hỏi nhiều là “cá biệt”?
  • Dạy con! Không dễ!
  • Test nhanh chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
  • TUỔI TÁC CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC MANG THAI NHƯ THẾ NÀO?
  • RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý
  • Khi bé hay dậy sớm
  • Bé học nhiều từ những câu hỏi
  • Chọn đồ chơi cho bé từ 24-36 tháng tuổi
  • Giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non
  • Những yếu tố giúp trẻ học ngoại ngữ tốt
  • Dạy trẻ cách từ chối
  • Giúp trẻ hình thành ý thức làm việc
  • Tâm lý “con một”
  • Bé thích nhại giọng
  • Con hiếu, mẹ bớt bệnh
  • Quan hệ cha mẹ và con cái - Bài 1: Tâm tư của con
  • Quan hệ cha mẹ và con cái - Bài 2: Tìm "tiếng nói chung"
  • Chọn cách vui chơi cùng bé (1-4 tuổi)
  • Xây dựng tính kiên nhân cho con
  • Giúp bé sơ sinh phát triển mọi giác quan
  • Bí quyết ăn đủ chất cho bà bầu ốm nghén
  • Trẻ phát triển toàn diện hơn khi sống cùng cha mẹ
  • Những 'môn học' cho bé lên 2 tuổi
  • Dạy cho con gái mới lớn về tình dục
  • Những chú ý khi đi du lịch cùng bé yêu
  • Xử trí khi bé yêu gặp ác mộng
  • DẠY CẢM THỤ CHO TRẺ DƯỚI 4 TUỔI
  • Giúp con kết bạn khi đến trường
  • Trẻ thừa hưởng tính cách từ cha mẹ là chủ yếu
  • Làm gì để bé thích đọc sách
  • Tạo sức mạnh cho trẻ để đối mặt với khó khăn
  • Ngôn ngữ bí mật của bé có thể bạn chưa biết
  • Mẹ ơi, bé buồn!
  • Những gì bạn không nên nói với con
  • Khi trẻ nói bậy
  • DẠY CON TÍNH TỰ LẬP
  • Năng lượng cho não - chìa khóa vàng giúp trẻ học hỏi không ngừng
  • Bé gái mắc tự kỷ dễ bị bỏ qua
  • Khuyến khích tính hài hước ở bé
  • Đích thực ái nam, ái nữ!
  • Trẻ “yêu” sớm nếu xem phim người lớn
  • Đối phó với bé hay cắn
  • Dạy bé biết “thảo”
  • Người lớn chưa hiểu chúng em!
  • 5 cách dạy trẻ sai lầm về tiền bạc
  • Trẻ chậm biết nói vì cha mẹ quên dạy
  • Khi bé không có bạn
  • Chọn quà cho trẻ
  • Chuẩn bị cho con vào lớp 1
  • Giúp bé khám phá thiên nhiên
  • Để bà yêu cháu hơn
  • Trẻ hay hỏi là trẻ thông minh
  • BÀY TỎ THÁI ĐỘ KHI NHẬN QUÀ
  • Lời khuyên cho thí sinh trước ngày thi
  • Không nên sinh con quá muộn
  • NỖI KHỔ CỦA CON EM TRONG GIA ĐÌNH
  • Nghịch “chỗ ấy” của con: Nguy cơ lệch giới tính ở trẻ
  • NGUY HẠI HƠN VI TRÙNG
  • SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TỪ 0 ĐẾN 3 TUỔI (kỳ 1)
  • TÂM LÝ HỌC MỘT XA XỈ PHẨM CẦN THIẾT
  • NHỮNG NHU CẦU CƠ BẢN VÀ NHU CẦU TÂM LÝ CỦA CON NGƯỜI.
  • XEM CON NHƯ LÀ MỘT CHỦ THỂ
  • NGHIÊN CỨU TÂM LÝ GIA ĐÌNH
  • CÁC BIỂU HIỆN NHIỄU TÂM Ở TRẺ EM
  • LOẠN TÂM Ở TRẺ EM
  • PHẢN ỨNG SINH LÝ VÀ TÂM LÝ CỦA TRẺ BẾ BỒNG
  • TÂM LÝ THANH NIÊN
  • Y HỌC NHÂN VĂN
  • NHỮNG THỜI KÌ PHÁT TRIỂN CỦA TRÍ KHÔN
  • Nhận biết dấu hiệu trầm cảm ngay từ khi trẻ học lớp 2
  • TÌM HIỂU TRẺ EM QUA HÌNH VẼ
  • LÂM SÀNG TÂM LÝ
  • TRẺ EM TRƯỚC CÁI CHẾT
  • CƠ HỘI ĐỂ NÃO BÉ PHÁT TRIỂN
  • NHỮNG THỜI KÌ PHÁT TRIỂN CỦA TRÍ KHÔN
  • PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRONG NĂM ĐẦU
  • TIẾP NHẬN PHÂN TÂM HỌC VÀ PHÊ PHÁN
  • KHÁI NIỆM “GẮN BÓ”
  • Mẹ ơi, em bé từ đâu ra?
  • PHÁT TRIỂN CẢM GIÁC VẬN ĐỘNG
  • Hãy tin vào bản năng người mẹ
  • CAN THIỆP SỚM - MỘT KHỞI ĐẦU SỚM CHO THÀNH CÔNG CỦA HOÀ NHẬP
  • Phân tâm học và phật giáo
  • Không nên bỏ qua cơ hội một lần trong đời
  • Tiếp nhận phân tâm học và phê phán
  • ý thức từ đâu tới?
  •  
    Giới thiệu về trung tâm
    B/S Nguyễn Khắc Viện, Nhà sáng lập Trung tâm N-T
    Bà Nguyễn Thị Nhất, Giám đốc Trung tâm N-T
     
    Bạn đọc viết
    Trò chuyện không định h...
    em muon hoi chi tiet hon ve cach the hien cac loai cau hoi t...
    29/11/08 10:24 More...
    By duong hanh

    Tự tin khẳng định trong...
    Một bài viết rất sâu sắc về hành vi thiếu t...
    22/11/08 15:38 More...
    By AAAA

    Des troubles psychologiques, des méthodes de consultation et de traitement ...