18 giờ 35, giờ cơm chiều ở trại Souq Al Ahad, cầm lọ mì chính
(bột ngọt) mang sẵn từ VN trên tay, cậu công nhân 20 tuổi tên Tuấn, quê
Thái Bình, đã lên nhà ăn tập thể nhưng rồi lại quay về phòng, dùng nốt
suất ăn thừa từ buổi sáng: bánh mì quệt bơ và mứt dâu tây, uống nước
trắng. Không phải ngày nào Tuấn cũng bỏ cơm nhưng Tuấn đã quá quen với
việc bữa tối ăn không được no.
Nằm trên chiếc giường tầng được che chắn bởi những tấm vải to trông
như những chiếc ổ trong căn phòng trọ chật chội, 5m2 chia trên 8 đầu
người sống chung với bọ rệp, với những bức tường treo rặt quần áo lao
động lấm dầu, cậu công nhân trẻ than thở: “Ở nhà ai mà biết đi Tây không
được ăn no? Buổi tối chỉ có trứng gà công nghiệp. Hôm nay ăn trứng rán
thì mai ăn trứng xào. Trứng rán thì ăn được nhưng trứng xào ngang đến
nỗi không ai ăn nổi. Không ăn thì đói”.
Công nhân cả trại đều chung sự ăn uống kham khổ đó. “Đời là một vại
dưa muối hỏng, muối hỏng rồi ta phải muối lại thôi!”. Thỉnh thoảng vài
hôm Tuấn lại nghêu ngao câu đùa vui và khệ nệ bê một mớ bẹ rau cải bắp
già xin về từ nhà bếp, những lá cải bắp đã úa vàng viền cạnh, đã bị nhà
bếp bỏ đi. Tuấn mang về để muối dưa cả phòng ăn dần cũng được mấy bữa.
Khi thấy nhiều công nhân đến xin giấy phép đi khám bệnh đau bụng, kỹ
sư Mustafa Tirelioglu, người Thổ Nhĩ Kỳ, thật ngạc nhiên, vì: “Tại sao
công nhân VN ai cũng ăn thịt gà, uống máu (drink the blood) những con gà
già?". Đó là những con gà công nghiệp già, èo ọt đáng lẽ phải đem chôn
hoặc hủy. Người Libya cũng biết, nhưng công nhân VN mua nhiều nên họ cứ
mang đến bán bởi đó là thứ tẩm bổ duy nhất sẵn có và hợp túi tiền.
Đã từng đi xây dựng ở các nước Ả Rập, anh Thắng, công nhân 29 tuổi,
quê Thái Nguyên, quyết định sẽ kinh doanh ngay từ trước khi sang Libya.
Vừa mới đặt chân đến trại Souq Al Ahad, anh đi gõ cửa từng phòng chào
bán khay hàng VN của anh: các loại thuốc men, những miếng cao dán, những
lọ dầu gió, những hộp C sủi rồi mấy túi bột giặt, chè Việt, cả hàng cân
thuốc lào nữa. Khi đã ổn định, anh mở quán tại phòng, bán miến dong,
đậu phụ đóng hộp, nước mắm, những đồ VN mà anh đi tìm mua khắp các đầu
mối ở Tripoli.
Những cảnh dở khóc dở cười
Đôi khi có những cái thiếu thốn khiến người ta phải giật mình. Đang nửa
đêm, Nam, công nhân 19 tuổi, bỗng nổi cơn đau bụng quằn quại. Bệnh xá
đóng cửa, đêm đó không có y tá trực. Đến khi điều phối viên, phiên dịch
viên (ở cách đó 1 km) biết chuyện, xuống thăm thì cơn đau của Nam tự
nhiên đã giảm từ bao giờ. Tất cả cười xòa: “Tốt nhất là không nên bị làm
sao đêm hôm, đâu phải lần nào mình cũng may mắn thế”. Theo lời anh Minh
Anh, phiên dịch viên trại Souq Al Ahad, những bác sĩ bản địa đều chạy
sô làm hợp đồng 3, 4 chỗ. Các công ty xây dựng thường chỉ thuê họ làm
việc ở bệnh xá một ca buổi sáng hoặc buổi chiều. Buổi tối các trại
thường chỉ có y tá trực. Thậm chí không có. Tôi chột dạ, nếu có tai nạn
lao động nguy hiểm cho ai đó làm ca đêm..., bệnh viện ở Tripoli cách đó
80 km.
Hai năm vắng bóng người thân ở đất nước Hồi giáo cũng thật dài.
Đâu phải ai cũng dám đi “xả stress”. Theo lời anh Căn, ở trại Sahadi
(Tripoli), đi làm về mà qua ngõ phố, con gái Sudan đen xì, béo, cứ lôi
tay mình, đặt lên tận ngực. Có những hôm chủ nhật cũng có một số người
đi bộ vào các đường phố xung quanh bãi chợ trời ở trung tâm thành phố,
là có “cò” gạ vào, nhưng anh không dám, không biết tiếng là một, sợ bị
lừa đánh hoặc cướp. Có người chọn cách khác "an toàn" hơn: mua laptop
về, nối mạng, ban đêm chat đủ kiểu với vợ hoặc bạn gái trên mạng.
Đêm nằm nhớ quê nhà
| |
|
Người ta mong muốn gì khi đi làm xa
nhà như thế? Trên đầu giường của cậu công nhân tên Mạnh, 22 tuổi, quê
Nghệ An, có ghi những dòng chữ giản dị: “Xa quê hương có ba điều để nhớ:
Có một việc để làm - Có một người để nhớ - Có một cuộc sống vui vẻ”.
|
| |
Phương tiện giải trí duy nhất trong những căn phòng trọ ba bề là núi, bề
còn lại cách xa cộng đồng dân cư bản địa 3 km là tivi kênh VTV4 và
những hội chơi bài tây. Một buổi tối của công nhân Nhâm được chia thành:
ăn cơm xong sẽ ngồi chơi tán chuyện chờ đến giờ phim kênh VTV4 lúc 7
giờ 30 tối giờ địa phương. 8 giờ 30 tối, xem hết bộ phim anh sẽ về phòng
và lên giường ngủ liền mạch đến sáng hôm sau, hoặc không anh sẽ chơi
bài tây với những lá bài cũ nát. Ngồi nói chuyện mãi cũng nhàm vì ngày
nào cũng chỉ có những chuyện quen thuộc.
Món giải trí ồn ào và náo nhiệt nhất ở các trại lao động xây dựng là
đánh bài. Thường cuối tháng các công nhân sẽ được nhận tiền tạm ứng,
những “cái bạc” nổi tiếng sẽ đi taxi từ trại nọ sang trại kia, ngồi
trong một phòng nào đó, con bạc quây kín cả phòng, đông nghẹt mùi thuốc
lá. Hết mấy ngày cuối tháng, số tiền ứng hết, trại đó lại trở về cuộc
sống tẻ nhạt bình thường.
Nếu muốn đi chơi phố thì phải chờ ngày chủ nhật và vào những khi có
tiền ứng. Thành phố Tripoli ở xa và công nhân không biết làm gì ngoài
việc đi chợ mua sắm đồ lặt vặt và dạo phố. Nói thêm rằng những nhà hát
hay trung tâm vui chơi giải trí công cộng ở Tripoli chưa phát triển. Âm
nhạc phổ biến trên phương tiện truyền thông là âm nhạc dân gian.
“Biết là đi xa nhà sẽ thiếu thốn, nhưng không nghĩ là đến thế này.
Bình thường không sao, nhưng lúc nào ốm ngây ngấy là muốn ở nhà, cạnh vợ
con”.
Câu nói thật thà ấy của anh Quyền làm tôi nhớ đến những phút gặp gỡ
người thân hiếm hoi của anh Nhung, thợ mộc 53 tuổi, quê Ninh Bình. Tháng
5.2010 khi anh làm ở trại (miền tây Libya - Tripoli) đã 21 tháng, cậu
con trai từ VN bắt đầu sang làm việc ở miền đông Libya (Benghazi). Biết
ngày con trai bay sang sân bay Tripoli, anh xin phép nghỉ làm việc, bắt
taxi 80 km lên sân bay chờ gặp con. Cha con có 30 phút gặp gỡ, sau đó
lại chia tay. Người bố trở về trại, đứa con tiếp tục đi tiếp hàng nghìn
km sang Benghazi.
Bài
1: Sắt bỏng và bão cát
Phóng sự của Phan Nhân
(còn tiếp)
Trích Thanhnienonline