Tole Sap – Hồ nước ngọt lớn thứ ba thế giới được người Việt sống nơi đây
đặt cho cái tên gần gũi: Biển Hồ. Nơi đây được coi là vựa cá tôm khổng
lồ của đất nước Chùa Tháp với cộng đồng hàng trăm ngàn người Việt đang
sinh sống.
Chốn "đi dễ khó về"
Dù đã nhiều lần qua lại đất nước Campuchia, nhưng lần này tôi quyết
đến cho được Biển Hồ. Cái quyết tâm ấy không phải vì vẻ đẹp của hồ nước
ngọt nổi tiếng thế giới này mà vì tôi muốn tìm hiểu cuộc sống của cộng
đồng người Việt ở đây.
Biển Hồ có chiều dài 80km và chiều rộng 40km lấy nước từ một “cánh
tay” của sông Mê Kông. Nơi đây một thời được nhắc đến như là chốn “đi
dễ khó về”. Nhưng do duyên nợ lịch sử, người Việt đi ngược dòng Mê Kông
lên đây sinh cơ, lập nghiệp đã ngót nghét cả trăm năm.
Biển Hồ trải dài qua 5 tỉnh của Campuchia, mùa lũ diện tích mặt nước
lên tới 10.000km2 nhưng mùa khô chỉ còn khoảng 3.000km2. Có khoảng
hơn 3 triệu dân sống xung quanh Biển Hồ, trong đó có khoảng 200.000
người Việt.
Ra đến Biển Hồ, đúng là “Biển” vì đi trên “Hồ” mà không thấy bờ.
Nơi chúng tôi đến là một cộng đồng người Việt khá lớn ở cách thủ
phủ Siem Reap 13km dân số khoảng gần 4 ngàn người. Những ngôi nhà của
người Việt thấp thoáng trên bờ. Nói đúng hơn đó là những cái chòi tạm
bợ, trống hoác, 4 – 5 người có thể khiêng được. Họ phải làm như vậy bởi
mùa lũ, nước có thể dâng cao hơn hàng chục mét. Lúc ấy người dân phải
khiêng nhà chạy lên theo con nước.
Đang mùa nước cạn, tàu chúng tôi như đang đi trên bùn, chân vịt vật
vã đánh bùn tung lên đỏ quạch. Hai bên bờ người dân vẫn sử dụng nước
sông để ăn uống, sinh hoạt. Những đứa trẻ người Việt đang dầm mình trên
dòng chảy phù sa, thân hình gầy gò, bóng nhẫy vì bùn đất.
Đói thì đầu gối phải bò
Dân ở đây chủ yếu đi làm thuê, bởi không phải ai cũng có đủ tiền mua
ngư cụ. Khoản thu nhập mỗi ngày may lắm là đủ 2 bữa ăn cho cả nhà. Đó
là chưa kể mùa lũ hằng năm, khi phù sa, tôm cá từ sông Mê Kông đổ vào
hồ thì chính quyền cấm đánh bắt cá để bảo vệ nguồn thủy sản. Thời gian
đó mất ba bốn tháng thì người dân bữa đói, bữa no.
Bảy Miên, người phụ nữ 24 tuổi, có 4 đứa con, sống trên chiếc nhà bè
khoảng 9m2 kể gia đình chị đã sống 4 thế hệ ở đây, làm nghề chài
lưới.Đang nói chuyện với Miên, nhìn qua lều nổi bên cạnh thấy một đứa
trẻ khoảng 7 – 8 tháng tuổi đang khóc ngặt nghẽo. Mỗi lần bé khóc, mẹ
nó lại nhúng xuống nước. Tôi lo lắng, Miên nói: “Đó là cách dỗ cho nó
nín ấy mà, nhúng vài ba lần là nó im à, với lại như vậy lớn lên nó mau
quen với sông nước!”.
Anh Sang, người thợ sửa chữa máy tàu nói với tôi: “Người Việt mình ở
đây sống dưới mức nghèo khổ, đói là chuyện quanh năm. Cứ 100 người thì
may chỉ có vài ba người tạm đủ no!”. Đã đói khổ, nhưng bình quân mỗi
gia đình có tới 5 – 6 đứa con. Họ cứ sinh đẻ, còn sống chết hay nuôi
nấng ra sao thì có “trời lo”.
Đói thì đầu gối phải bò, nghề phụ nhưng là thu nhập chính của một bộ
phận người Việt là ăn xin. Khi những chiếc tàu du lịch đi vào vùng
Biển Hồ và được các “trinh sát” xác định đó là tàu của du khách Việt
Nam thì một cuộc “tập kích” bắt đầu. Khi chiếc tàu lớn của chúng tôi
đang xé nước với tốc độ lớn thì bỗng hai bên mạn tàu xuất hiện 5 – 7
chiếc xuồng máy đuôi tôm bám theo. Trên đó là những đứa trẻ khoảng 7 –
13 tuổi đang đứng ở tư thế chuẩn bị nhảy.
Khi những chiếc xuồng nhỏ bám theo đạt cùng tốc độ cùng với tàu lớn
thì những đứa trẻ tội nghiệp kia nhảy qua tàu như những tay “cướp biển”
lão luyện. Chúng bám trên thành tàu chìa tay xin tiền du khách. Có đứa
mang theo được một ít nước ngọt, nước lọc vào tàu bán cho có lệ, có
đứa quấn trên cổ một con trăn đang ngo ngoe, bám vào thành tàu để khách
chụp ảnh và kiếm cớ xin tiền. Xin được 500 Riel (bằng 2.500đ), chúng
cũng vui rồi. Có lẽ chúng cũng cảm nhận được hai chữ đồng bào mà chỉ
dám xin tiền ở những tàu du khách người Việt để mong sự xót thương.
“Biết đọc, viết tiếng Việt đã là quá lớn…”
Một điểm sáng trên mênh mông Biển Hồ chính là ngôi trường mang tên:
Trường học Việt Nam. Trường học là ngôi nhà trên chiếc bè nổi, được xây
dựng từ năm 1997 do Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Siem Reap và các
mạnh thường quân tặng. Đón chúng tôi là thầy Trần Văn Tư năm nay 74
tuổi, người từng sống nhiều năm ở đây, sau đó về nước và quay lại dạy
học được hơn 4 năm.
Trường học này không thuộc hệ thống giáo dục Campuchia mà do những
người hảo tâm cùng với Hội người Việt ở Biển Hồ tài trợ hoạt động. Lớp
học dạy theo sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT Việt Nam. Nói là
trường nhưng chỉ có 1 lớp học dạy từ lớp 1 – 4, mỗi ca khoảng 40 học
sinh. Hiện cả trường có 246 học sinh.
Hằng năm, bình quân học sinh bỏ học khoảng 20%. Ngoài thầy Tư còn 2
thầy giáo trẻ khác từ Việt Nam qua dạy tình nguyện. Họ hoàn toàn không
có một khoản trợ cấp, thu nhập gì từ việc dạy học. Các thầy chỉ làm
việc tự nguyện, đóng góp cho cộng đồng, mong cho bọn trẻ ở đây bớt tăm
tối vì mù chữ.
Đứng lớp sáng nay là thầy giáo Nguyễn Minh Luân, một chàng trai trẻ
từ Việt Nam tình nguyện qua đây được 2 năm. Cả thầy lẫn trò vui mừng
khi có khách ghé thăm. Thầy Luân cho biết: “Các anh khó hình dung nổi
cuộc sống khó nhọc của trẻ em người Việt ở đây.
Chúng lớn lên, nhưng tương lai thì vô định vì không có điều kiện đến
trường học của Campuchia nên khó có thể hội nhập được cuộc sống nước
bạn. Chúng chỉ sống loanh quanh trong cộng đồng người Việt. Biết đọc,
biết viết tiếng Việt đã là một điều quá lớn đối với chúng”.
Thầy Tư cho hay: “Luân là cháu một người bạn của ông, nghe kể về
trường Việt Nam ở Biển Hồ và lũ trẻ thất học tội nghiệp, anh đã qua
đây dạy tình nguyện”. Các thầy đã không có thu nhập gì, còn phải nhường
cơm sẻ áo cho lũ trẻ. Từ sách giáo khoa, tập, bút… các thầy cũng phải
lo ngoài những đóng góp của người dân.
Những đứa trẻ khi thì phụ cha mẹ chài lưới, khi thì đi ăn xin trên
tàu du lịch và khi rảnh việc chúng lại hồn nhiên đến lớp. Lúc sáng trên
tàu, hỏi những đứa trẻ “nhảy tàu” có đứa nói với tôi là vẫn đang đi
học, nhưng hôm nay nhà hết gạo nên phải nghỉ học đi xin. Thì ra chúng
cũng là học trò thầy Tư, tôi kể chuyện trên tàu, thầy giáo già chia sẻ:
“Việc chúng đi xin, trường cũng biết nhưng không thể can ngăn gì được
bởi chúng đói. Thậm chí có đưa còn phải lo đi xin để nuôi gia đình. Chỉ
mong chúng có chút gì lót dạ… để đừng bỏ lớp”.
Thầy Tư cũng nặng trĩu ưu tư: “Lớp học này hoạt động được nhờ vào
từ thiện nên bấp bênh. Tôi nay cũng đã già rồi, cũng đang lo. Nếu lớp
học mà ngưng thì tội cho tụi trẻ quá!”.
Người Việt ở Tole Sap có câu hát: “Lòng mẹ thương con như Biển Hồ
lai láng…”, đứng trong Trường học Việt Nam với những người thầy tình
nguyện như thầy Tư, thầy Luân, có lẽ phải hát thêm: “Thầy thương con
như Biển Hồ lai láng…”. Tổ quốc xa xôi, chính quyền sở tại của nước bạn
thì không đủ sức chăm lo cho cuộc sống của ngoại kiều. Vậy nên, trên
mênh mang sóng nước của Biển Hồ, người Việt cứ thế lênh đênh mãi những
phận đời trôi dạt.
Chúng tôi quay lại thành phố khi hoàng hôn xuống nhuộm phù sa Tole
Sap bầm đỏ, không ai nói điều gì, lòng trống trải khôn cùng…
PhnomPenh, 6/2010
Vũ Mai Nam